Hé lộ những tình tiết mới trong nghi vấn đạo văn để lên giáo sư

GS. Nguyễn Văn Lợi – nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam – cho biết, sự việc GS. Nguyễn Đức Tồn đạo văn đã từng được làm rõ ở viện này.

Hé lộ những tình tiết mới trong nghi vấn đạo văn để lên giáo sư Ảnh 1

Năm 2002, GS. Lợi là Chủ tịch Hội đồng chức danh giáo sư cấp cơ sở (Viện Ngôn ngữ học Việt Nam). Năm 2006, ông là thư ký HĐCDGS ngành Ngôn ngữ học. GS. Lợi là người trực tiếp 2 lần tham gia xét duyệt hồ sơ của GS. Tồn.

– Năm 2002, GS. Tồn có nộp hồ sơ xin xét duyệt chức danh GS nhưng bị từ chối. Năm đó, ông là Thư ký HĐCDGS ngành Ngôn ngữ học và chủ tịch Hội đồng cấp cơ sở – Viện Ngôn ngữ học, nơi GS. Tồn công tác. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về lý do GS. Tồn bị từ chối hồ sơ năm đó?

Năm 2002, ông Nguyễn Đức Tồn nộp hồ sơ xin phong giáo sư ở Hội đồng (HĐ) cấp cơ sở Viện Ngôn ngữ học. HĐ đã phát hiện những điều bất minh, khuất tất trong hồ sơ của ứng viên này.

Theo quy định của HĐ cấp Nhà nước, sách chuyên khảo – một tiêu chuẩn “cứng” minh chứng về thành tích nghiên cứu khoa học cho ứng viên – phải được xuất bản trước khi nộp hồ sơ cho HĐ. Trong hồ sơ của ông Nguyễn Đức Tồn, sách “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)” như một tiêu chuẩn cứng để xét phong giáo sư, trên thực tế, chưa được xuất bản.

Kết luận này của HĐ căn cứ vào công văn của Cục Xuất bản, Bộ Văn hóa. Đồng thời, HĐ cũng phát hiện trong các sách mà ứng viên đưa ra làm bằng chứng thành tích đào tạo và nghiên cứu khoa học có nhiều chỗ nghi được sao chép của người khác.

Trong sách “Những vấn đề dạy và học trong nhà trường, Phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở”, (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 5/2001) có nhiều đoạn sao chép từ bài báo: “Dạy từ láy cho học sinh trung học cơ sở” của thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Hà đã đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 2001. Còn trong sách “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002), có nhiều trang chép nguyên xi từ luận án Phó tiến sĩ: “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật” của Nguyễn Thúy Khanh, bảo vệ cách đó 6 năm (năm 1996) tại cơ sở đào tạo Viện Ngôn ngữ học.

Trong cuốn sách trên của ứng viên Nguyễn Đức Tồn, cũng có hàng chục trang chép gần như nguyên vẹn từ luận văn tốt nghiệp đại học chuyên ngành Ngôn ngữ học, đã bảo vệ cách đó 7 năm: “Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt” của Cao Thị Thu, sinh viên K36 (1991-1995) Khoa Ngôn ngữ học, trường đại học KHXH&NV Hà Nội. Vì thế, HĐ cơ sở đã bỏ phiếu bác bỏ hồ sơ xin phong Giáo sư của ứng viên Nguyễn Đức Tồn.

– Trước đó, ở Viện Ngôn ngữ học, lãnh đạo viện có từng nhận được đơn thư tố cáo GS. Tồn đạo văn? Nếu có, viện đã từng xem xét và đưa ra kết luận gì về sự việc hay chưa?

Từ 2002- 2006, Viện Ngôn ngữ học mất rất nhiều thời gian, công sức để giải quyết vụ đạo văn của đương sự Nguyễn Đức Tồn. Ông Tồn và chị Nguyễn Thúy Khanh đều là cán bộ của viện, nên viện phải đứng ra giải quyết. Ông Tồn và chị Khanh đều là Đảng viên, chi bộ Viện Ngôn ngữ học cũng phải tham gia giải quyết. “Án tại hồ sơ”, viện phải dành riêng một góc trong phòng đọc thư viện của viện trưng bày hồ sơ liên quan vụ đạo văn để cán bộ toàn viện cùng xem xét.

Hồ sơ gồm sách của ông Tồn: “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (Trong sự so sánh với những dân tộc khác)” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002), và luận án Phó Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thúy Khanh:“Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật”.

– Năm 2006, khi GS. Tồn nộp đơn xin xét duyệt chức danh GS lần 2, HĐ cấp cơ sở ở Viện Ngôn ngữ học đã xử lý hồ sơ như thế nào, thưa giáo sư?

Năm 2006, ông Nguyễn Đức Tồn lần thứ 2 nộp hồ sơ xin phong giáo sư, nhưng ông Tồn nộp hồ sơ xin xét phong ở HĐ cơ sở Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội. Một số cán bộ Viện Ngôn ngữ học đã có đơn gửi HĐ cơ sở tố cáo việc ông Tồn đạo văn trong các sách của ứng viên Nguyễn Đức Tồn. Nhưng ở lần xét phong này tại HĐ cơ sở Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, có ý kiến thẩm định cho rằng, không phải ông Tồn đạo văn của chị Khanh, mà trái lại, luận án của NCS Nguyễn Thúy Khanh do ông Tồn hướng dẫn, chép từ luận án phó tiến sĩ của ông Tồn mang từ Nga về.

Trước ý kiến này, viện và chi bộ tổ chức nhiều cuộc họp. Tại các cuộc họp, chị Khanh đã trình bày bản giải trình, trong đó, chị Khanh khẳng định, luận án do chị tự viết, chính ông Tồn xin được cùng chị cộng tác viết chuyên khảo. Chị đồng ý, do muốn ủng hộ ông Tồn viết chuyên khảo để ông Tồn chuẩn bị xin phong giáo sư. Nhưng khi sách của ông Tồn xuất bản, chị Khanh kinh ngạc nhận thấy, sách chỉ đứng tên ông Tồn. Trong khi đó, nhiều trang luận án của chị bị sao chép nguyên xi trong sách ông Tồn. Như vậy, ông Tồn đã chiếm đoạt kết quả nghiên cứu của chị, nay bị phanh phui, quay lại vu cáo chị Khanh.

Chị Khanh khẳng định, ý kiến của người thẩm định của HĐ Cơ sở Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn bênh vực cho sai trái của ông Tồn là không khách quan và xúc phạm đến chị. Ý kiến của chị Khanh trình bày trước toàn thể cán bộ của viện, trước các đảng viên chi bộ, có mặt ông Nguyễn Đức Tồn. Ông Tồn không có ý kiến phản bác. Hiện nay, các văn bản giải trình của chị Khanh vẫn còn được lưu giữ.

Gần đây, trên một số báo có phỏng vấn một số cán bộ của Viện Ngôn ngữ và chi bộ như PGS Tạ Văn Thông, PGS Phạm Văn Hảo, PGS Phạm Văn Tình – những người đã tham gia giải quyết vụ việc – đã xác nhận điều này.

Ở HĐ Cơ sở (Khoa Ngôn ngữ học Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn), ứng viên Nguyễn Đức Tồn đủ số phiếu tán thành và hồ sơ được chuyển lên HĐ chuyên ngành Ngôn ngữ học. Tại HĐ chuyên ngành Ngôn ngữ học, các thành viên đã thảo luận kĩ về những chỗ nghi ngờ đạo văn trong hồ sơ ứng viên này. Sau đó, HĐ đã bỏ phiếu, kết quả ứng viên Nguyễn Đức Tồn không đủ số phiếu đồng ý phong chức danh giáo sư.

Cuối năm 2006, công luận đã có những bài viết phơi bày và lên án việc đạo văn của ông Nguyễn Đức Tồn. Năm 2007, HĐCDGS chuyên ngành Ngôn ngữ học mới được thành lập. Tôi và một số thành viên khác không tham gia HĐ.

– Đến năm 2008, GS. Tồn tiếp tục nộp đơn xin xét duyệt chức danh GS và được thông qua ở cả 3 cấp. Lúc này, ông còn công tác tại Viện Ngôn ngữ và có nằm trong HĐCDGS ngành Ngôn ngữ học không?

Năm 2008, tôi và ½ cán bộ của Viện chuyển sang xây dựng Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam. Năm 2007, tôi cũng không tham gia HĐ chức danh chuyên ngành Ngôn ngữ học nữa. HĐ mới được thành lập, trong đó có GS. TSKH Trần Ngọc Thêm.

Trước câu hỏi nóng bỏng mấy ngày qua của công luận, vì sao ông Tồn đạo văn vẫn được phong GS, GS. TSKH Trần Ngọc Thêm đã trả lời. Như bạn có thể đọc trên các báo, công luận ghi nhận rằng, trong các câu trả lời, ông Thêm khẳng định ông Tồn đạo văn là rõ ràng.

GS. Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra một số chi tiết biện hộ cho việc HĐ bỏ phiếu tán thành phong chức danh GS cho ông Tồn. Có những chi tiết không hoàn toàn đúng với những gì mà các cán bộ, đảng viên Viện Ngôn ngữ học đã biết qua các bản giải trình của chị Nguyễn Thúy Khanh.

Như vậy, sự thật, công lí đã dần được hé lộ. Tuy nhiên, vụ việc chỉ được giải quyết khi “ba mặt một lời”, với sự có mặt của chị Khanh. Tôi được biết, đây cũng là nguyện vọng của chị Khanh, để đòi lại quyền lợi chính đáng và cả nhân phẩm của mình, khi bị người khác cướp đoạt và chà đạp.

– GS. Tồn có trả lời một tờ báo rằng ông là người đi đầu trong việc tố cáo GS Tồn đạo văn trong những năm còn công tác ở viện, vì ông Tồn từng đấu tranh về việc ông đã sử dụng quá nhiều kinh phí khi còn là Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học. Ông có chia sẻ gì trước thông tin này không?

Giai đoạn 1995-2005, tôi làm Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, phụ trách mảng nghiên cứu khoa học của viện. Ông Tồn nói rằng việc tôi tố ông ấy đạo văn là do trả thù cá nhân, do trước đây ông Tồn lên tiếng về việc sử dụng kinh phí không đúng tại Viện Ngôn ngữ học, có liên quan đến tôi. Cần phải khẳng định rằng những điều ông Tồn nói là điều gian dối.

Thứ nhất, phải khẳng định rằng, không phải tôi tố ông Tồn, mà tôi là Chủ tịch HĐ cơ sở (năm 2002) và Thư kí HĐ Chuyên ngành (năm 2006) cùng các thành viên HĐ các cấp xem xét hồ sơ của ông Tồn và phát hiện những bất minh, đạo văn trong hồ sơ của đương sự và cùng đa số các thành viên HĐ bỏ phiếu không tán thành phong giáo sư cho ông Tồn. Là Phó Viện trưởng, tôi cùng lãnh đạo viện phải giải quyết trường hợp gian trá này. Tôi cũng tham gia các cuộc thảo luận và phê phán hành vi đạo văn của ông Tồn ở các tổ chức đoàn thể của viện.

Thứ hai, khi tham gia lãnh đạo viện, tôi được phân công phụ trách khoa học, tức là lập kế hoạch, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng. Tôi không liên quan đến công tác tài chính. Tôi không phải là chủ tài khoản, tôi không có quyền và trách nhiệm chi tiêu tài chính, kinh phí. Do vậy, không thể nói tôi liên quan đến “việc sử dụng kinh phí không đúng tại Viện Ngôn ngữ” như ông Tồn nói.

Thứ ba, trước khi nộp hồ sơ xin phong GS tại HĐ cơ sở Viện Ngôn ngữ học, trong cương vị Phó Viện trưởng, lại là chủ tịch HĐ cơ sở và Thư kí HĐ Chuyên ngành, tôi được ông Tồn (nhân danh đồng hương) tìm cách lôi kéo. Chỉ sau khi bị HĐ cơ sở Viện Ngôn ngữ học (do tôi là Chủ tịch và các cán bộ lãnh đạo và chủ chốt của Viện là Ủy viên) phát hiện những điều gian dối, đạo văn trong hồ sơ và bỏ phiếu không đồng ý phong GS cho ứng viên Nguyễn Đức Tồn, đương sự mới bắt đầu kiện cáo lãnh đạo viện, chi ủy.

Một trong các nội dung kiện cáo của ông Tồn là, đề tài khoa học tập trung ở một số người. Ý kiến này được đưa ra thảo luận ở viện, nhất là ở chi bộ nhiều lần. Kết quả, bằng biểu quyết, những người tham dự khẳng định rằng, hầu hết cán bộ có năng lực (khoảng 40) đã tham gia các đề tài cấp Bộ, không có chuyện đề tài chỉ tập trung ở một số người như ông Tồn nói. Kết luận này hiện còn lưu trong các báo cáo tổng kết cuối năm của viện và tổ chức đoàn thể.

Cần nói thêm rằng, do không được xét phong giáo sư, từ 2002-2008, ông Tồn thường xuyên khiếu kiện, gây nên tình trạng bất ổn ở viện. Cao trào khiếu kiện của ông Tồn xảy ra sau năm 2006, lần thứ 2 ông Tồn không được phong GS. Tôi nghỉ quản lí trong chức trách Phó Viện trưởng từ năm 2005.

Như vậy, không có chuyện do ông Tồn tố cáo tôi trước mà tôi trả thù, mà ngược lại: Khi không đạt được tham vọng, bị tập thể HĐ chức danh Cơ sở Viện Ngôn ngữ học, và HĐ Chuyên ngành Ngôn ngữ học bác bỏ hồ sơ xin phong GS của ông Tồn (do hồ sơ bất minh, ăn cắp kết quả nghiên cứu của người khác trong các sách của mình), ông Tồn mới khiếu kiện, vu cáo người khác.

– Xin cảm ơn giáo sư.

 

Theo BaoMoi.Com

Loading...

Bài viết cùng chuyên mục

Bức ảnh đối lập giữa cụ già và cô dâu trong ngày cưới khiến ai cũng ngậm ngùi xót xa về thời thanh xuân tươi đẹp

Cụ ông Sài Gòn chải tóc cho người bạn đời trong tiệm áo cưới

Bố và con gái 4 tuổi tử nạn thương tâm sau đuôi xe máy cày